khoa học thông tin

I.1.1. Các khái niệm cơ bản về thông tin và máy tính (lý thuyết 1T)

I.1.1.1. Thông tin và xử lý thông tin

một. Thông tin – Dữ liệu – Kiến thức Thông tin – Thông tin

Khái niệm thông tin được sử dụng hàng ngày, thông tin cho phép con người hiểu và nhận thức tốt hơn các đối tượng của đời sống xã hội, tự nhiên,… những công việc hợp lý cần làm để đạt được mục tiêu một cách tốt nhất.

Người ta coi thông tin là kết quả của quá trình xử lý, kiểm soát và tổ chức dữ liệu theo cách mà nó sẽ mang lại nhiều kiến ​​thức hơn cho người nhận. Nói cách khác, thông tin là bối cảnh mà dữ liệu được nhúng vào.

Dữ liệu – Dữ liệu

Dữ liệu là sự thể hiện thông tin được biểu diễn bằng các tín hiệu vật lý. Thông tin chứa đựng ý nghĩa và dữ liệu là sự kiện phi cấu trúc và không có ý nghĩa trừ khi được tổ chức và xử lý.

Dữ liệu thực tế có thể là:

Dữ liệu thường được mô tả bằng số như trong bảng Các ký hiệu thông thường, ví dụ như chữ cái, Các tín hiệu vật lý như ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ, áp suất, v.v.

Theo khái niệm chung của mọi người về công nghệ thông tin, thông tin là sự hiểu biết của chúng ta về một lĩnh vực nhất định, và dữ liệu là thông tin được biểu diễn và xử lý trong máy tính.

Bạn là em: IT

Kiến thức – Kiến thức

Kiến thức theo nghĩa thường là thông tin ở mức trừu tượng hơn. Kiến thức khá đa dạng, nó có thể là sự kiện, thông tin và phương tiện mà một người có được thông qua kinh nghiệm hoặc đào tạo. Nó có thể là sự hiểu biết chung về một lĩnh vực cụ thể. Thuật ngữ kiến ​​thức được sử dụng với nghĩa là “hiểu” một đối tượng có tiềm năng cho một mục đích cụ thể.

Hệ thống thông tin (bài thông tin) là một hệ thống để thu thập dữ liệu, xử lý nó để tạo ra thông tin có ý nghĩa hoặc dữ liệu mới.

Dữ liệu —-  Thông tin —  Kiến thức

vận dụng vận dụng

b. Quy trình xử lý thông tin

Tất cả các quá trình xử lý thông tin bằng máy tính hoặc bằng con người đều được thực hiện theo một quy trình như sau:

Dữ liệu được nhập ở đầu vào (Input), qua xử lý để nhận thông tin ở đầu ra (Output). Dữ liệu trong quá trình nhập, xử lý và xuất có thể được lưu trữ.

khoa học thông tin

Hình 1.1 Mô hình chung của quá trình xử lý thông tin

Xử lý thông tin bằng máy tính điện tử

Thông tin được thu thập và lưu trữ, qua quá trình xử lý có thể trở thành dữ liệu mới để tiếp nối một quá trình xử lý dữ liệu khác để tạo ra thông tin mới theo ý định của con người.

Con người có nhiều cách để lấy dữ liệu và thông tin. Con người có thể lưu trữ thông tin qua tranh ảnh, giấy tờ, sách báo, hình ảnh trong phim, băng từ. Trong thời đại hiện nay, khi mà thông tin đến với chúng ta ngày càng nhiều thì con người có thể sử dụng một công cụ hỗ trợ cho việc lưu trữ, chọn lọc và xử lý thông tin đó là máy tính. . Máy tính điện tử giúp con người tiết kiệm nhiều thời gian, công sức và tăng độ chính xác của việc tự động hóa một phần hoặc toàn bộ quy trình xử lý thông tin.

I.1.1.2. Máy tính điện tử và máy phân loại

một. Lịch sử phát triển của máy tính điện tử

Do nhu cầu tăng độ chính xác của phép tính và giảm thời gian tính toán, người ta bắt đầu quan tâm đến việc chế tạo các công cụ tính toán từ đầu: chiếc bàn tính Trung Quốc, bộ cộng cơ học của nhà toán học người Pháp Blaise Pascal (1623 – 1662), một chiếc máy tính cơ học có thể cộng, trừ, nhân và chia của nhà toán học người Đức Gottfried Wilhelmson Leibniᴢ (1646 – 1716), một máy tính vi phân để tính toán các đa thức toán học …

Tuy nhiên, máy tính điện tử thực sự bắt đầu hình thành từ những năm 1950 và trải qua 5 thế hệ cho đến nay, dựa trên những tiến bộ trong công nghệ điện tử và điện tử cũng như những cải tiến về lý thuyết, đặc điểm và chủng loại của nó.

Thế hệ 1 (1950 – 1958): máy tính sử dụng bóng đèn chân không điện tử, mạch điện tách rời, xử lý dữ liệu bằng thẻ đục lỗ, điều khiển bằng tay. Máy có kích thước rất lớn, tiêu tốn nhiều điện năng, tốc độ tính toán chậm, khoảng 300-3000 phép tính / s. Máy tính thế hệ 1 tiêu biểu như EDVAC (USA) hay BESEM (ex-USSR),… Thế hệ 2 (1958 – 1964): máy tính sử dụng transistor và mạch in. Máy tính đã có sẵn chương trình dịch như Cobol, Fortran và một hệ điều hành đơn giản. Kích thước máy còn lớn, tốc độ tính toán khoảng 10.000-100.000 phép tính / s. Điển hình là IBM-1070 (USA) hay MINSK (ex-USSR), … Thế hệ 3 (1965 – 1974): máy tính được trang bị bộ vi xử lý sử dụng các mạch điện tử nhỏ mà có thể cho tốc độ tính toán là d ‘khoảng 100.000 – 1 triệu phép tính / s. Máy đã có hệ điều hành đa lập trình, đa người hoặc phân chia thời gian. Kết quả máy tính có thể được in trực tiếp vào máy in. Điển hình là loại IBM-360 (Mỹ) hay EC (Liên Xô cũ), … Thế hệ 4 (1974 – nôm na): máy tính bắt đầu có mạch đa xử lý với tốc độ tính toán hàng chục triệu đến hàng trăm nghìn. tính toán / giây. Giai đoạn này hình thành hai loại máy tính chủ yếu: máy tính để bàn cá nhân (Personal Computer – PC) hoặc máy tính xách tay (Laptop hoặc máy tính Notebook) và máy tính chuyên nghiệp thực hiện đa lập trình, đa xử lý, … tạo thành hệ thống mạng máy tính (Réseaux Informatiques ), và các ứng dụng đa phương tiện Thế hệ 5 (1990 – không): bắt đầu nghiên cứu tạo ra máy tính mô phỏng hoạt động của Bộ não là hành vi của con người, với trí tuệ nhân tạo với khả năng tự hành động, phát triển tình huống và quản lý kiến ​​thức cơ bản hệ thống giải quyết các vấn đề khác nhau Máy tính lượng tử b. Phân loại máy tính điện tử

Trên thực tế, có nhiều cách khác nhau để xếp hạng máy tính và chúng ta có thể xếp hạng máy tính dựa trên hiệu suất tính toán của chúng như sau:

Máy tính (Máy vi tính hoặc PC): Loại này thường được thiết kế cho một người sử dụng nên giá thành rẻ. Hiện nay, máy tính khá phổ biến và có nhiều dạng: máy tính để bàn (De-top), máy trạm (Workstation), máy tính xách tay (Notebook) và máy cầm tay.Máy tính tầm trung (máy tính mini): loại máy tính có tốc độ và hiệu suất tính toán cao hơn so với các máy tính khác. Chúng thường được thiết kế để sử dụng trong các ứng dụng phức tạp. Giá của những chiếc máy này cũng hàng chục nghìn USD.máy tính lớn một máy tính tuyệt vời (SuperComputer) là những máy tính có tổ chức bên trong rất phức tạp, với tốc độ cực nhanh và hiệu suất tính toán cao, khoảng hàng tỷ phép tính mỗi giây. Các máy tính này cho phép nhiều người dùng đồng thời và được sử dụng trong các trung tâm máy tính / viện nghiên cứu để giải quyết các vấn đề cực kỳ phức tạp và tốc độ cao. Chúng rất đắt, hàng trăm nghìn thậm chí hàng triệu đô la.

Xem thêm: Cách thi thực hành bằng lái xe máy hạng A1, Hướng dẫn thi thực hành bằng lái xe máy hạng A1,

I.1.1.3. Máy tính và các công nghệ liên quan

một. Khoa học máy tính

Thuật ngữ máy tính ra đời trong tiếng Đức vào năm 1957 làm Karl Steinbuch đề xuất trong một bài báo Informatik: Automatѕche Informationѕᴠerarbeitung (tức là “Máy tính: xử lý thông tin tự động”). Sau đó vào năm 1962, Philippe Drefus của Pháp được gọi là “khoa học máy tính”, tiếp theo là Walter F. Bauer cũng sử dụng tên này. Hầu hết các nước Tây Âu ngoại trừ Vương quốc Anh đều chấp nhận nó. Ở Anh, người ta sử dụng thuật ngữ “điện toán”, hoặc “điện toán” là thuật ngữ dịch, Nga cũng chấp nhận tên khoa học máy tính (Năm 1966).

Khoa học máy tính là một ngành khoa học nghiên cứu các phương pháp, công nghệ và kỹ thuật xử lý thông tin tự động. Các công cụ chính được sử dụng trong tin học là máy tính điện tử và các thiết bị truyền thông khác. Nội dung nghiên cứu khoa học máy tính chủ yếu gồm 2 phần:

Kỹ thuật phần cứng (Kỹ thuật phần cứng): nghiên cứu chế tạo các thiết bị và linh kiện điện tử, công nghệ vật liệu mới … hỗ trợ thiết kế và chế tạo máy tính và mạng máy tính, thúc đẩy năng lực xử lý và truyền thông. .Công nghệ phần mềm (Kỹ thuật phần mềm): nghiên cứu và phát triển hệ điều hành, các tiện ích chung cho máy tính và mạng máy tính, và các phần mềm ứng dụng cho các mục đích xử lý và khai thác thông tin của con người. B. Công nghệ thông tin (Information Technology – CNTT)

Thuật ngữ công nghệ thông tin xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 1990. Theo Hiệp hội Công nghệ Thông tin Hoa Kỳ (ITAA): “Công nghệ thông tin là ngành nghiên cứu các hệ thống thông tin được tin học hóa, đặc biệt là phần mềm ứng dụng và phần cứng máy tính. Nói tóm lại, máy tính giao dịch với máy tính điện tử và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, truyền và truy xuất thông tin một cách an toàn.“.

Theo NQ49 CP, “Công nghệ thông tin là …”

Các ứng dụng máy tính ngày nay:

Quản lý dữ liệu Thiết kế hệ thống cơ sở dữ liệu Quản lý hệ thống thông tin Quản lý hệ thống… .c. Công nghệ thông tin và truyền thông

Ngày nay, xu hướng sử dụng “thông tin” để thay thế “dữ liệu” có ưu điểm là mở rộng sang lĩnh vực truyền thông và đã trở thành một TIC (Công nghệ thông tin và truyền thông). Nói một cách chính xác, hai thuật ngữ này giống hệt nhau.

Giao tiếp máy tính, nói một cách đơn giản, là kết nối một số máy tính với nhau trong một khu vực địa lý nhỏ. Tuy nhiên, nhiều máy tính có thể kết nối với nhau trên phạm vi rộng hơn, và việc trao đổi diễn ra qua một mạng viễn thông nhất định. mạng Internet – Mạng máy tính toàn cầu là một phát minh vĩ đại của nhân loại trong thế kỷ 20, cũng là sản phẩm của các ngành công nghệ thông tin và truyền thông.

  • 15 cách chữa viêm họng hạt tại nhà bằng phương pháp dân gian hiệu quả nhất
  • Dịch vụ SEO địa phương
  • Công ty TNHH TM DV Hoa Mai
  • Cách bán hàng online trên zalo